Hiển thị các bài đăng có nhãn nguyên nhân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nguyên nhân. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015

Bệnh Đái Dầm

Bệnh Đái Dầm
Đái dầm! Không phải dấu hiệu đường tiết niệu bị hỏng, nếu trước tuổi 6 - 7 là không đáng quan tâm, không gây bất kỳ nguy cơ sức khỏe, tuy nhiên có thể phát ban vùng sinh dục...
Đái dầm không phải là một dấu hiệu của đường tiết niệu đã bị hỏng. Nó thường chỉ là một giai đoạn phát triển.
Đái dầm cũng được gọi là đái không thể giữ được ban đêm. Nói chung, đái dầm trước tuổi 6 hoặc 7 là không đáng quan tâm. Ở tuổi này, ban đêm chỉ đơn giản là kiểm soát bàng quang có thể không được thành lập.

Nếu tiếp tục đái dầm, chữa trị các vấn đề với sự kiên nhẫn và hiểu biết. Bàng quang được tập luyện, báo động độ ẩm hoặc thuốc có thể giúp giảm đái dầm .
Nguyên nhân
Không ai biết chắc chắn những gì gây ra đái dầm, nhưng yếu tố khác nhau có thể đóng một vai trò.
Bàng quang nhỏ. Bàng quang có thể không phát triển đủ để giữ nước tiểu được sản xuất vào ban đêm.
Không có khả năng nhận ra một bàng quang đầy đủ. Nếu các dây thần kinh kiểm soát bàng quang chậm trưởng thành, khiến một bàng quang có thể không đầy đủ kích động xuôi từ giấc ngủ - đặc biệt là nếu là ngủ sâu.
Một sự mất cân bằng hormone. Trong suốt thời thơ ấu, một số trẻ em không sản xuất đủ hormone chống lợi tiểu (ADH) để làm chậm sản xuất nước tiểu vào ban đêm.
1. Di truyền
Đái dầm tiên phát thường mang tính di truyền. Nếu cha và mẹ từng đái dầm khi nhỏ, nguy cơ đái dầm của con cái sẽ là 77%. Tỷ lệ này giảm còn 44% nếu chỉ bố hoặc mẹ từng đái dầm, và còn 15% nếu không ai trong cha mẹ từng đái dầm.
2. Giảm dung tích chức năng bàng quang
Ở nhóm trẻ này, thể tích bàng quang vẫn bình thường nhưng khả năng chứa nước tiểu lại thấp hơn so với bạn bè cùng trang lứa. Ban ngày, trẻ phải đi tiểu thường xuyên hơn, đôi khi phải chạy vội vào nhà vệ sinh để tránh sự cố. Khả năng giữ nước tiểu qua đêm cũng thấp hơn.
3. Tăng sản xuất nước tiểu về đêm

Ban đêm não sản xuất một loại hoóc môn gọi là vasopressin, giúp làm giảm lượng nước tiểu sản xuất ở thận, cho phép chúng ta ngủ tới sáng mà không phải dậy đi tiểu. Sản xuất không đủ hoóc môn này có thể gây đái dầm.
4. Không thể tỉnh giấc
Một số trẻ đái dầm không có khả năng tỉnh giấc khi bàng quang đạt dung tích tối đa.
5. Táo bón
Khi trực tràng bị đầy, phân có thể ép vào bàng quang, khiến cơ quan này "hiểu nhầm" và gửi tín hiệu thần kinh tới não như khi bàng quang bị đầy. Trực tràng đầy phân cũng làm giảm dung tích bàng quang hoặc khiến trẻ không thể làm rỗng tối đa cơ quan này.
6. Các yếu tố tâm lý

Trẻ có thể bị đái dầm thứ phát sau những căng thẳng đáng kể như chuyển nhà, chuyển trường, mất người thân, cha mẹ ly dị hay bị lạm dụng tình dục. Đái dầm thường mất đi khi rắc rối tâm lý được xử lý. Tuy nhiên, cha mẹ cần nhớ rằng rắc rối tâm lý không gây đái dầm tiên phát.
7. Lạm dụng tình dục
Lạm dụng tình dục có thể là một yếu tố gây đái dầm ở trẻ trước đó không gặp khó khăn trong vấn đề này. Cần nghĩ tới lạm dụng tình dục nếu thấy trẻ có các biểu hiện: nhiễm trùng tiết niệu mạn tĩnh, ra nhiều chất tiết vì bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, ngứa hoặc đau ở bộ phận sinh dục.
8. Các tình trạng bệnh lý
Đái dầm có thể xuất hiện ở một số bệnh lý như bệnh thiếu hồng cầu hình liềm, nhiễm trùng tiết niệu, tiểu đường và một số bệnh lý thần kinh. Nguyên nhân này chỉ chiếm 3% trường hợp đái dầm.
Các triệu chứng
Đái dầm có đặc điểm là đi tiểu không tự nguyện vào ban đêm.
Hầu hết trẻ em có đủ hệ tiết niệu hoàn thiện độ tuổi 4, nhưng thực sự không có ngày cụ thể để phát triển kiểm soát bàng quang đầy đủ. 5 tuổi, đái dầm vẫn còn là một vấn đề cho khoảng 15 phần trăm trẻ em. Giữa 8 và 11 tuổi, ít hơn 5 phần trăm trẻ vẫn còn đái dầm.

Hầu hết trẻ em lớn hơn đái dầm và tự chăm sóc, nhưng một số cần một chút giúp đỡ. Trong trường hợp khác, làm ướt giường có thể chỉ ra một vấn đề cơ bản cần chăm sóc y tế.
Tham khảo ý kiến bác sĩ nếu:
- Vẫn thấm ướt giường sau khi 5 hoặc 6 tuổi.
- Bắt đầu ướt giường sau một thời gian bị khô vào ban đêm.
- Đái dầm được đi kèm với đi tiểu đau, khát nước không bình thường, nước tiểu màu hồng.


Mọi chi tiết và giải đáp xin liên hệ
Công ty TNHH sức khỏe tuyệt hảo
Địa chỉ: Số: 48/13, Đường số 10, P. Bình Hưng Hòa B, Q. Bình Tân,Tp Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0935 141 438 - Mr Lâm
Email : tribenhthongminh.vn@gmail.com

Rối loạn tiêu hoá

Rối loạn tiêu hoá
Rối loạn tiêu hoá là chứng bệnh thường gặp trong cuộc sống hàng ngày. Chúng gây ra do sự co thắt không đều của các cơ vòng trong hệ thống tiêu hoá, dẫn đến tình trạng đau bụng  và thay đổi đại tiện. Vì vậy, hiện tượng gây ra làm cho cuộc sống của người bệnh bất tiện và khó chịu, làm giảm chất lượng cuộc sống nhưng không gây nguy hiểm đến tính mạng.
Định nghĩa về rối loạn tiêu hoá
Rối loạn tiêu hoá là hội chứng gây ra bởi hiện tượng co thắt không đều của các cơ vòng trong hệ thống tiêu hoá. Những triệu chứng gây nên là đau bụng và thay đổi đại tiện. Tuy bệnh không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng làm người bệnh cảm thấy khó chịu.
Triệu chứng của rối loạn tiêu hoá
Hội chứng này thường xuất hiện một số biểu hiện như sau:
·         Thói quen đại tiện thay đổi: Hiện tượng này tiến triển và nặng dần theo thời gian, người bệnh bị đau bụng từng cơn, táo bón và tiêu chảy xen kẽ, đi đại tiện không đều đặn.
·         Đau bụng: Nhiều mức độ từ đau âm ỉ cho đến dữ dội, đau vùng bụng bên trái hoặc có thể đau nhiều chỗ khác, trong một vài trường hợp đau có thể lan ra sau lưng.
·         Đầy hơi: Bụng căng trướng, ợ hơi liên tục, trung tiện nhiều.
·         Một số triệu chứng khác: Ợ hơi, đắng, hôi miệng, buồn nôn, nôn…
Nguyên nhân
Chế độ ăn không hợp vệ sinh
Ăn uống không đảm bảo hoặc sử dụng thực phẩm không rõ nguồn gốc gây nên đau bụng, tiêu chảy, nhiễm khuẩn đường ruột.
Ăn những món kị nhau
Khi nấu chung một số thực phẩm hoặc cho vào cơ thể cùng lúc có thể gây nên tình trạng nhiễm độc hoặc nhiễm khuẩn lâu dài.
Tác dụng phụ của thuốc
Một số loại thuốc đặc biệt là kháng sinh rất dễ gây tiêu chảy và hiện tượng rối loạn tiêu hoá. Trường hợp dùng kháng sinh kéo dài có thể làm cho tiêu chảy trở nên nặng hơn. Do đó khi sử dụng thuốc cần có chỉ định cụ thể từ bác sĩ.
Điều trị bệnh không đúng cách
Khi xuất hiện một số vấn đề ở bụng thường điều trị theo người xung quanh mách bảo hoặc đọc sách báo.. Chính việc điều trị không đúng cách làm cho bệnh trở nên nghiêm trọng hơn.
Chẩn đoán
Rối loạn tiêu hoá có triệu chứng với nhiều bệnh khác như viêm đại tràng, loét tiêu hoá, bệnh tuyến giáp, ung thư ( nhất là ung thư đường ruột)… nên người bệnh cần đi khám và làm xét nghiệm để chẩn đoán chính xác được bệnh. Tuỳ theo tình trạng bệnh, tuổi tác, sức khoẻ hiện tại mà bác sĩ sẽ có những chỉ định xét nghiệm khác nhau.
Điều trị rối loạn tiêu hoá
Chế độ ăn uống
Cần có chế độ dinh dưỡng phù hợp để tránh hiện tượng rối loạn tiêu hoá:
·         Thức ăn đảm bảo vệ sinh và có nguồn gốc rõ ràng
·         Tránh một số thực phẩm gây hiện tượng đầy hơi chướng bụng như hành tỏi, đậu, cần tây, chuối, nho khô, húng quế…
·         Tránh những món ăn có chứa nhiều sorbitol (một loại đường dùng trong các loại nước ngọt ăn kiêng), kẹo cao su hoặc quá nhiều đường fructose (như trong mật o­ng và một số trái cây).
·         Ăn nhiều rau xanh, uống nhiều nước
·         Tăng cường luyện tập thể dục giúp hệ tiêu hoá hoạt động hiệu quả hơn.
Điều trị bằng thuốc
Tuỳ thuộc vào tình trạng của mỗi bệnh nhân mà bác sĩ sẽ chỉ định sử dụng thuốc hợp lý nhưng thuốc chỉ đóng vai trò phụ trong việc điều trị, chỉ nên dùng khi thật cần thiết và càng ít càng tốt.
Phòng chống rối loạn tiêu hoá
Để phòng chống hiệu quả rối loạn tiêu hoá đặc biệt là hiện tượng rối loạn tiêu hoá sau khi dùng thuốc kháng sinh cần thực hiện tốt một số điều sau đây:
·         Tránh sử dụng thức ăn ôi thiu và nhiễm hoá chất độc hại, hạn chế ăn thức ăn chế biến sẵn
·         Ăn đủ bữa, ăn nhiều rau xanh, hạn chế ăn thịt
·         Không nên để quá đói
·         Không nên lạm dụng thuốc kháng sinh
·         Tập thể dục mỗi ngày để tăng cường sức khoẻ.


Mọi chi tiết và giải đáp xin liên hệ
Công ty TNHH sức khỏe tuyệt hảo
Địa chỉ: Số: 48/13, Đường số 10, P. Bình Hưng Hòa B, Q. Bình Tân,Tp Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0935 141 438 - Mr Lâm
Email : tribenhthongminh.vn@gmail.com



Thứ Năm, 19 tháng 3, 2015

Mẹo nhỏ giúp giảm căn thẳng


http://www.tribenhthongminh.vn

Khái niệm stress không còn xa lạ với mỗi chúng ta đặc biệt trong cuộc sống hiện tại, khi con người phải đối mặt với trăm ngàn lo toan và áp lực của môi trường sống, phải đấu tranh để sinh tồn. Stress hay còn gọi một cách dễ hiểu là căng thẳng. Tình trạng căng thẳng rất dễ gặp phải khi bạn không vững vàng về tâm lí, gặp phải những điều không như ý trong cuộc sống. Vậy thực chất stress là gì? Nó có ảnh hưởng như thế nào đối với chúng ta? Dưới đây là một số nguyên nhân, cách trị bệnh stress mà mọi người nên biết.



Nguyên nhân gây stress
- Những tác động bên trong cơ thể như khi chúng ta đối mặt với bệnh tật, đau ốm.

- Môi trường bên ngoài như thời tiết, sự ô nhiễm…

- Vấn đề tâm lí: luôn sống với thái độ tiêu cực và thiển cận trong mọi vấn đề, điều này sẽ giúp bạn luôn trong trạng thái mất niềm tin, chán nản và sinh ra mỏi mệt để rồi dẫn đến căng thẳng đầu óc.

- Những tác động không tốt từ cuộc sống, xã hội và gia đình, đặc biệt khi bạn gặp phải những rắc rối những chuyện không vui chưa có cách giải quyết, dẫn đến tình trạng bế tắc và stress.

Triệu chứng stress

- Về mặt tâm lí: dấu hiệu của stress là khi bạn cảm thấy mất phương hướng, mệt mỏi, chán chường không muốn làm gì, dễ nổi nóng hoặc im lặng không nói gì, luôn trong trạng thái bất an, căng thẳng và không thoải mái.


1. Hãy tìm một nơi có không gian thoáng đãng và“hét”
Ở những thành phố lớn, tìm được một nơi có không gian thoáng đãng, trong lành để trút bầu tâm sự là chuyện không hề dễ dàng với những người thu nhập thấp. Tuy nhiên, chịu khó đi tìm một chút tại các góc hồ nhỏ, tại thời điểm cuối buổi chiều bạn có thể hét thật to. “AAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAA”, hét lên thật to, trút hết nỗi niềm là cách mà nhiều người thường áp dụng. Sẽ không ai biết bạn là ai, có lẽ hơi không bình thường một chút nhưng sau khi hét thật to cảm giác căng thẳng sẽ được giảm bớt khá nhiều


2. Nhai kẹo cao su
Vừa có tác dụng giúp hơi thở của bạn thơm tho, kẹo cao su còn có tác dụng giảm bớt căng thẳng và lo lắng cũng như cải thiện hiệu suất tinh thần trong công việc. Nhiều thử nghiêm đã chỉ ra rằng, người nhai kẹo cao su không những ít căng thẳng mà còn ít bị trầm cảm hơn và ít bị mắc các bệnh cao huyết áp hoặc cholesterol cao.


3. Tập thiền


Nhiều nghiên cứu đã cho thấy những lợi ích tích cực của thiền định, giúp giảm căng thẳng, giảm huyết áp, giảm bớt cảm giác đau đớn và thậm chí ngăn ngừa tái phát ở những bệnh nhân bị trầm cảm.

Một nghiên cứu tại Đại học Emory ở Atlanta cho thấy rằng thiền giúp ta nâng cao những nhận thức về tinh thần và kiểm soát suy nghĩ của bản thân trong khi tập trung vào hơi thở, có thể điều trị các rối loạn như rối loạn thiếu tập trung và hiếu động thái quá.

Có nhiều phương pháp thiền khác nhau. Thiền không dừng lại ở việc bạn phải ngồi bắt chéo chân và đọc thần chú để xả stress. Một số phong cách thiền định tập trung vào việc làm thanh lọc tâm hồn, khuyến khích việc tăng cường những hình ảnh và suy nghĩ tích cực, đối xử tốt với bản thân và mọi người xung quanh.

Những người có vận động hạn chế cũng có thể thiền trong khi ngồi trên ghế hoặc thậm chí khi nằm.

4. Hít thật sâu mùi hoa hương cỏ dại

Từ lọ hoa trong văn phòng làm việc hoặc ở nhà bạn, bạn có thể hít thật sâu mùi hương hoa đó sẽ đưa bạn vào một trạng thái thật thư giãn. Hít mùi hương có thể làm giảm nồng độ của các hormone stress như cortisol. Riêng động tác hít thở sâu đã giúp bạn giảm căng thẳng. Động tác này chuyển dưỡng khí, làm tăng lưu thông máu, giúp làm dịu toàn bộ cơ thể của bạn.


5. Massage thư giãn

Khi stress, căng thẳng thì massage là 1 phương pháp thư giãn rất tốt. Khi massage giúp tinh thần thư thái sau một ngày làm việc căng thẳng, và tạo điều kiện để cơ bắp được thả lỏng, huyết mạch được lưu thông. Bạn không nhất thiết cần phải ra tiệm massage, bạn có thể massage tại nhà với các thao tác nhẹ nhàng mang lại hiệu quả cao, giúp đi vào giấc ngủ dễ dàng hơn.


6.Nghe bản nhạc yêu thích

Khi bạn nghe bản nhạc yêu thích, nó sẽ tạo ra sự giải phóng dopamine, một chất dẫn truyền thần kinh trong não làm tăng lên niềm vui.


7. Uong mot ly tra xanh

Tra xanh chua axit amino, theanine giup san xuat va giai phong chat hoa hoc goi la dopamine. Ca hai dopamine va theanine se tao cho co the cam giac de chiu. Caffeine co the lam stress tro nen toi te hon, vi the hay tranh su dung cac thuc uong co caffeine.


8. Cuoi

Cuoi that to va thoai mai se cat dut tinh trang stress, giup co the thu gian va chuc nang mien dich hoat dong tot hon. Hay tim nhung niem vui trong cuoc song va tham gia vao cac hoat dong vui nhon co the lam ban cuoi de lam tang chuc nang mien dich cua co the va chong lai cac can benh.







Mọi chi tiết và giải đáp xin liên hệ

Công ty TNHH sức khỏe tuyệt hảo


Địa chỉ: Số: 48/13, Đường số 10, P. Bình Hưng Hòa B, Q. Bình Tân,Tp Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0935 141 438 - Mr Lâm
Email : tribenhthongminh.vn@gmail.com
http://www.tribenhthongminh.vn

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2015

Bệnh eczema (chàm)


Bệnh eczema (chàm)
Dù nguyên nhân nội giới hay ngoại giới cũng đều có liên quan đến phản ứng đặc biệt của cơ thể dẫn đến phản ứng dị ứng ,bệnh nhân có "thể địa dị ứng".

Eczema là bệnh ngoài da phổ biến, ngày nay và trong t­ương lai do yêu cầu công nghiệp hoá, sử dụng nhiều hoá chất Eczema nghề nghiệp sẽ ngày càng tăng lên.
Có thể định nghĩa Eczema là một trạng thái viêm lớp nông của da cấp tính hay mạn tính, tiến triển từng đợt hay tái phát, lâm sàng biểu hiện bằng đám mảng đỏ da, mụn n­ước và ngứa, nguyên nhân phức tạp nội giới, ngoại giới như­ng bao giờ cũng có vai trò " thể địa dị ứng", về mô học có hiện tư­ợng xốp bào (Spongiosis).
Là bệnh da ngứa điển hình, mạn tính hay tái phát, điều trị còn khó khăn.
Nguyên nhân
Nguyên nhân phức tạp nhiều khi khó hoặc không phát hiện đ­ược. Có thể do:
Nguyên nhân ngoại giới
Các yếu tố vật lý, hoá học, thực vật, sinh vật học đụng chạm vào da gây cảm ứng thành viêm da, eczema (các chất này gọi là di nguyên). Ví dụ: ánh sáng, thuốc bôi, tiêm uống, các hoá chất dùng trong công nghiệp, trong gia đình (cao su, kền, crôm, xi măng, sơn...).
Một số bệnh ngoài da gây ngứa ( nấm, ghẻ...) do chà xát, bôi thuốc linh tinh... có thể trở thành eczema thứ phát.
Nguyên nhân nội giới
Rối loạn chức phận nội tạng, rối loạn thần kinh, rối loạn nội tiết có thể là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây eczema.
Dù nguyên nhân nội giới hay ngoại giới cũng đều có liên quan đến phản ứng đặc biệt của cơ thể dẫn đến phản ứng dị ứng ,bệnh nhân có "thể địa dị ứng".
Theo Halpern, Coombs phản ứng eczema đ­ược xếp vào kiểu " mẫn cảm tế bào trì hoãn" trong đó có vai trò của các tế bào lymphô mang ký ức kháng nguyên.
Triệu chứng

Có tính chất bất kỳ ,vùng da nào cũng có thể bị eczema, tuy nhiên tuỳ theo từng thể lâm sàng hay ở vị trí nào (sẽ trình bày ở phần thể lâm sàng).
Tổn th­ương cơ bản: tổn thư­ơng cơ bản trong bệnh eczema là đám mảng đỏ da và mụn nư­ớc, mụn nư­ớc là tổn th­ương điển hình của bệnh eczema, eczema phát triển qua 4 giai đoạn:
Giai đọan đỏ da: bệnh bắt đầu bằng trên da xuất hiện vết hoặc đám đỏ, hơi nề, cộm nhẹ, ranh giới không rõ, rất ngứa - trên nền đỏ xung huyết nhìn kỹ thấy có những sẩn tròn lấm tấm nh­ưhạt kê (thực chất là những mụn nư­ớc đang từ d­ưới đùn lên) đây là phản ứng đầu tiên của biểu bì.
Giai đoạn mụn nư­ớc (còn gọi là giai đoạn chảy nư­ớc): mụn n­ước ngày càng nhiều và xuất hiện trên khắp bề mặt đám tổn thư­ơng, mụn n­ước eczema có các đặc tính sau:
Mụn n­ước nhỏ bằng đầu tăm, đầu kim 1 - 2 mm.
Nông, tự vỡ.
San sát bên nhau kín khắp bề mặt thư­ơng tổn.
Đùn từ dư­ới lên hết lớp này đến lớp khác.
Đám tổn thư­ơng bề mặt chi chít các mụn nư­ớc. Mụn n­ước nông, tự vỡ và do ngứa gãi nên đám tổn thư­ơng bị trợt, chảy dịch nên còn gọi là giai đoạn chảy nước, giai đoạn này kéo dài nhiều ngày hoặc vài tuần, các mụn nư­ớc vỡ đi để lại điểm chợt nhỏ như­ châm kim (còn gọi là giếng eczema của Devergie) nhiều điểm chợt liên kết thành đám mảng trợt , đỏ rỉ dịch , đồng thời dễ nhiễmkhuẩn thứ phát có mủ, vẩy tiết..
Điều trị
Tránh các chất gây kích ứng da.
Giữ nư­ớc cho da dùng cream, mỡ làm ẩm da (Lacticare...) trong các đợt bệnh ổn định.
Tắm nư­ớc hơi ấm như­ng không nóng, hạn chế xà phòng.
Bôi mỡ glucocorticoids.
Kháng sinh chống tụ cầu vàng khi có bội nhiễm nên dùng erythromycine.
Kháng histamin tổng hợp.
Corticoids đ­ường toàn thân (uống) nên hạn chế dùng, chỉ dùng cho giai đoạn v­ượng bệnh và dùng từng đợt ngắn.
Với eczema đang trong giai đoạn cấp tính cần nghỉ ngơi, hạn chế chất kích thích (cà phê, r­ợu...).
Tránh tiếp xúc với dị ứng nguyên nếu phát hiện đư­ợc.
Tránh cào gãi chà xát, tránh xà phòng.
Nếu có nhiễm khuẩn rõ ( sốt, bạch cầu tăng cao, tồn th­ương s­ưng tấy đau, nồi hạch, có mủ vẩy tiết) cho dùng kháng sinh uống 1 đợt 7 - 10 ngày (Tetracyclin,erythromycin).
Cho thuốc giải cảm, chống ngứa, chống dị ứng: kháng histamin tổng hợp .
Eczema đang v­ượng lan rộng, có ban dị ứng thứ phát có thể chỉ định corticoids uống một đợt nếu không có chống chỉ định.

Mọi chi tiết và giải đáp xin liên hệ
Công ty TNHH sức khỏe tuyệt hảo
Địa chỉ: Số: 48/13, Đường số 10, P. Bình Hưng Hòa B, Q. Bình Tân,Tp Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0935 141 438 - Mr Lâm
Email : tribenhthongminh.vn@gmail.com



Thứ Năm, 12 tháng 3, 2015

Bệnh bạch cầu


Bệnh bạch cầu

Bệnh bạch cầu là bệnh ung thư khởi phát từ các mô tạo ra máu hay còn gọi là tủy xương. Bình thường, tủy xương sản xuất ra các tế bào bạch cầu, các tế bào hồng cầu và tiểu cầu. Bệnh bạch cầu xảy ra khi quá trình sản xuất có trật tự này bị gián đoạn. Điều này dẫn đến việc tạo ra các tế bào tủy chưa trưởng thành được gọi là các tế bào non của bạch cầu. Các tế bào này sẽ dồn ép các tế bào tủy bình thường dẫn đến sự suy giảm các tế bào máu bình thường.

NGUYÊN NHÂN

Ngoài những những yếu tố nguy cơ có thể là nguyên nhân của bệnh bạch cầu đã được nhiều người biết, nguyên nhân chính xác gây bệnh thường rất khó để xác định trong phần lớn các bệnh nhân mắc bệnh này. Các yếu tố nguy cơ được biết đến như là tiếp xúc với bức xạ (ví dụ như nhà khoa học Marie Curie – người đã phát hiện ra bức xạ đã qua đời vì bệnh bạch cầu), vào loại hóa chất nhất định (chẳng hạn như Benzen), vài rối loạn di truyền (ví dụ như hội chứng Down) và một số vi-rút. Bệnh bạch cầu cũng có thể phát triển ở những bệnh nhân đã  nhận một số thuốc hóa trị.

CÁC TRIỆU CHỨNG


Các triệu chứng của bệnh ung thư bạch cầu thường liên quan đến sự rối loạn các chức năng bình thường của tủy xương. Tình trạng thiếu máu (thiếu hồng cầu) sẽ dẫn đến các biểu hiện  như khó thở, choáng váng, đau đầu và hôn mê. Tuy nhiên, các triệu chứng này cũng có thể là do thiếu máu vì các nguyên nhân khác.
Các hạch bạch huyết bị sưng, lá lách to dẫn đến chướng bụng, nhiễm trùng thường xuyên, hay bị sốt tái đi tái lại và đổ mồ hôi vào ban đêm thường liên quan đến số lượng bạch cầu cao bất thường. Đôi khi, điều này cũng dẫn đến các cơn đau xương khủng khiếp. 

Tình trạng chảy máu như chảy máu nướu răng, chảy máu mũi thường xuyên, vết bầm tím và các điểm màu đỏ được gọi là các đốm xuất huyết (chảy máu dưới da) có liên quan đến số lượng tiểu cầu thấp. Đôi khi, người bệnh chỉ có những triệu chứng chung như mệt mỏi, chán ăn và giảm cân. 

CHẨN ĐOÁN


Vì nhiều triệu chứng kể trên có thể là do các bệnh lý khác cho nên việc chẩn đoán cần được xác minh thông qua xét nghiệm máu và xét nghiệm tủy xương. Xét nghiệm máu cần thiết được gọi là xét nghiệm công thức máu. Xét nghiệm này cho biết số lượng bạch cầu cao và thường là các tế bào bạch cầu chưa trưởng thành. Số lượng hồng sẽ ít hơn so với bình thường gọi là là bệnh thiếu máu, đồng thời số lượng tiểu cầu cũng thấp (gọi là giảm tiểu cầu).
Tuy nhiên, xét nghiệm chẩn đoán bệnh bạch cầu vẫn là xét nghiệm tủy xương. Thông thường, xét nghiệm này được thực hiện bằng cách chọc hút và sinh thiết, gần đây, các mẫu tủy cũng được gửi đi làm các xét nghiệm chuyên biệt hơn như đếm tế bào dòng chảy, phân tích di truyền tế bào và dấu ấn phân tử chuyên biệt. Kết quả chọc hút và sinh thiết tủy sẽ giúp cho xác định cho chẩn đoán bệnh bạch cầu, trong khi các xét nghiệm chuyên biệt này cung cấp cho chúng ta thêm thông tin chính xác về loại bệnh bạch cầu cũng như các chỉ số tiên lượng bệnh.
Xét nghiệm tủy xương thường được thực hiện tại gai chậu sau trên. Đối với bệnh bạch cầu dòng Lymphô cấp tính, bệnh nhân cần được thực hiện thêm chọc dò dịch não tủy. Phương pháp này giúp lấy được chất dịch từ não gọi là dịch não - tủy (CSF) để xác định xem bệnh bạch cầu có thâm nhiễm hệ thần kinh trung ương, đây tình trạng thường gặp trong ung thư bạch cầu dòng Lymphô cấp tính.
Bệnh bạch cầu không xác định giai đoạn, ngoại trừ bệnh bạch cầu Lymphô mạn tính. Phân nhóm của bệnh bạch cầu quan trọng hơn vì giúp xác định được mức độ xâm lấn của bệnh để có phương pháp điều trị và tiên lượng. 


Việc điều trị bệnh bạch cầu là phụ thuộc vào nhóm/phân nhóm chính xác bệnh bạch cầu. Hiện có rất nhiều phương pháp điều trị khác nhau như hóa trị, liệu pháp sinh học, phương pháp điều hòa miễn dịch, ghép tế bào gốc và xạ trị...

Mọi chi tiết và giải đáp xin liên hệ
Công ty TNHH sức khỏe tuyệt hảo
Địa chỉ: Số: 48/13, Đường số 10, P. Bình Hưng Hòa B, Q. Bình Tân,Tp Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0935 141 438 - Mr Lâm
Email : tribenhthongminh.vn@gmail.com



Thứ Ba, 10 tháng 3, 2015

Viêm thanh quản

Viêm thanh quản


Nguyên nhân của tình trạng gia tăng bệnh nhân viêm thanh quản thường do môi trường ô nhiễm, thêm vào đó là số người làm công việc phải sử dụng giọng nói nhiều ngày càng tăng cao.


Trong điều kiện môi trường ngày càng bị ô nhiễm như hiện nay, bất cứ mùa nào chúng ta cũng dễ mắc bệnh nếu không biết cách bảo vệ thanh quản. Nguyên nhân thứ hai và rất phổ biến dẫn đến gia tăng viêm thanh quản là do bệnh nghề nghiệp (những người phải sử dụng giọng nhiều như ca sĩ, giáo viên, người bán hàng…), khiến dây thanh âm bị kích ứng quá mức và tổn thương, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật xâm nhập, gây viêm. Bên cạnh đó là tình trạng uống rượu bia, hút thuốc lá nhiều cũng gây tổn thương thanh quản.
Các triệu chứng đặc trưng của viêm thanh quản cấp là: sốt, chảy nước mũi và cảm thấy họng nóng, như có dị vật vướng trong cổ, ho khan, giọng bị khản dần, có khi mất tiếng. Sau vài ba ngày, từ ho khan chuyển sang có đờm lẫn mủ, người mệt mỏi. Nếu không được điều trị triệt để, các đợt viêm thanh quản cấp tái phát nhiều lần sẽ chuyển sang giai đoạn mạn tính, việc điều trị gặp nhiều khó khăn hơn. Đặc biệt, không chỉ ảnh hưởng tới giọng nói, giao tiếp thường ngày của người bệnh, viêm thanh quản mạn tính còn có thể dẫn đến các khối u thực thể ở thanh quản như hạt xơ dây thanh, u nang dây thanh, polip dây thanh, ung thư thanh quản,…

Để điều trị viêm thanh quản, bác sĩ thường dùng cho bệnh nhân nhóm thuốc kháng sinh, chống viêm,… hoặc phẫu thuật nếu có khối u ở thanh quản. Bên cạnh đó, bệnh nhân có thể dùng các biện pháp dân gian như: ngậm lát chanh muối, ngậm quất chưng đường phèn, uống nước ép từ giá đỗ sống,… và sử dụng những sản phẩm nguồn gốc thảo dược, an toàn, hiệu quả với thành phần chính là rẻ quạt, giúp thanh nhiệt, giải độc, tiêu đờm, kết hợp với một số dược liệu khác như: bán biên liên, bồ công anh, sói rừng,… có tác dụng phòng ngừa, hỗ trợ điều trị, giảm triệu chứng sốt, đau họng, khản tiếng, mất tiếng do viêm thanh quản, ngăn chặn bệnh tái phát.
Song song với các biện pháp trên, để điều trị hiệu quả, bệnh nhân viêm thanh quản cần đeo khẩu trang khi ra ngoài hoặc làm việc trong môi trường ô nhiễm; hạn chế phát âm quá to, quá nhiều, dùng công cụ hỗ trợ khi nói – đặc biệt là với những người làm nghề thường xuyên phải sử dụng giọng nói.
Trong viêm thanh quản hầu hết trường hợp các triệu chứng cuối cùng ít hơn một vài tuần và được gây ra bởi một cái gì đó nhẹ như cảm lạnh. Ít thường xuyên hơn, các triệu chứng viêm thanh quản là do một cái gì đó nghiêm trọng hơn hoặc lâu dài. Viêm thanh quản, dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm:
Khàn tiếng.
Giọng yếu hoặc mất giọng nói.
Cảm giác buồn cổ họng.
Đau họng.
Khô họng.
Ho khan
Đến gặp bác sĩ khi
Có thể quản lý hầu hết các trường hợp viêm thanh quản cấp tính với các bước tự chăm sóc, như nghỉ ngơi và uống nhiều chất lỏng.
Lấy hẹn với bác sĩ:
Nếu khàn tiếng kéo dài hơn hai tuần.
Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu con :
Âm thanh ồn ào, the thé khi hít thở.
Nước dãi nhiều hơn bình thường.
Có khó khăn khi nuốt.
Có khó thở.
Bị sốt cao hơn 390C.
Những triệu chứng này có thể cho thấy viêm thanh quản và đường thông khí chỉ bên dưới. Mặc dù thường có thể được điều trị tại nhà, các triệu chứng nặng cần chăm sóc y tế.

Hầu hết các trường hợp viêm thanh quản là tạm thời và cải thiện sau khi các nguyên nhân cơ bản được tốt hơn. Nguyên nhân của viêm thanh quản cấp tính bao gồm:
Nhiễm trùng vi rút, như cảm lạnh.
Phát âm căng thẳng, gây ra do la hét hoặc sử dụng quá mức giọng nói.
Virus như bệnh sởi hoặc quai bị.
Nhiễm trùng do vi khuẩn như bạch hầu, mặc dù điều này là rất hiếm.

Phương pháp điều trị và thuốc
Viêm thanh quản cấp tính gây ra bởi một loại virus thường tự tốt hơn trong vòng một tuần. Các biện pháp tự chăm sóc cũng có thể giúp cải thiện triệu chứng.
Phương pháp điều trị viêm thanh quản mạn tính là nhằm mục đích điều trị các nguyên nhân tiềm ẩn, chẳng hạn như chứng ợ nóng, hút thuốc hoặc sử dụng quá nhiều rượu.
Thuốc được sử dụng trong một số trường hợp bao gồm:
Thuốc kháng sinh. Trong hầu hết các trường hợp viêm thanh quản, thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng bất kỳ bởi vì nguyên nhân là do virus. Nhưng nếu có một nhiễm trùng do vi khuẩn - một nguyên nhân hiếm gặp của viêm thanh quản - bác sĩ có thể khuyên nên thuốc kháng sinh.
Phong cách sống và biện pháp khắc phục
Một số phương pháp tự chăm sóc và điều trị tại nhà có thể làm giảm các triệu chứng của viêm thanh quản và giảm căng thẳng về giọng nói:
Hít thở không khí ẩm. Sử dụng máy tạo độ ẩm để giữ cho không khí trong nhà hay văn phòng ẩm. Hít hơi nước từ một bát nước nóng hoặc tắm nóng.
Nghỉ ngơi nói càng nhiều càng tốt. Tránh nói chuyện hoặc hát quá to hoặc quá lâu. Nếu cần nói chuyện trước các nhóm lớn, hãy thử sử dụng một microphone hoặc loa.
Uống nhiều chất lỏng. Để ngăn ngừa mất nước (không uống rượu và cà phê).
Làm ẩm cổ họng. Hãy thử ngậm viên ngậm, xúc họng bằng nước muối hoặc nhai một miếng kẹo cao su.
Tránh thuốc thông mũi. Những thuốc này có thể khô cổ họng.
Tránh thì thầm. Điều này khiến căng thẳng, thậm chí nhiều hơn giọng nói phát biểu bình thường.
Phòng chống
Để ngăn ngừa khô hoặc kích ứng cho dây thanh âm:
Không hút thuốc, và tránh khói thuốc. Khói khô cổ họng và kích thích dây thanh âm.
Uống nhiều nước. Chất lỏng giúp giữ cho chất nhầy ở cổ họng lỏng và dễ dàng để làm sạch.
Tránh làm sạch cổ họng quá nhiều. Điều này gây hại nhiều hơn, bởi vì nó gây ra một sự rung động bất thường của dây thanh âm và có thể tăng sưng. Cũng gây tiết ra chất nhờn nhiều hơn và cảm thấy bị kích thích.
Tránh nhiễm trùng đường hô hấp trên. Hãy chắc chắn rằng để có được chích ngừa cúm hàng năm nếu bác sĩ đề nghị. Rửa tay thường xuyên và tránh tiếp xúc với những người có bệnh nhiễm trùng đường hô hấp như cảm lạnh
Mọi chi tiết và giải đáp xin liên hệ
Công ty TNHH sức khỏe tuyệt hảo
Địa chỉ: Số: 48/13, Đường số 10, P. Bình Hưng Hòa B, Q. Bình Tân,Tp Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0935 141 438 - Mr Lâm
Email : tribenhthongminh.vn@gmail.com