Hiển thị các bài đăng có nhãn Ho. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ho. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2015

Tìm hiểu về bệnh hen phế quản


Hen là một loại bệnh ảnh hưởng đến đường dẫn khí của phổi (phế quản). Hen gây ra bởi quá trình viêm mạn tính (kéo dài) của phế quản. Nó làm cho phế quản, hoặc đường dẫn khí, của bệnh nhân trở nên nhạy cảm với nhiều tác nhân khác nhau.



Hen phế quản là gì?


Hen là một loại bệnh ảnh hưởng đến đường dẫn khí của phổi (phế quản). Hen gây ra bởi quá trình viêm mạn tính (kéo dài) của phế quản. Nó làm cho phế quản, hoặc đường dẫn khí, của bệnh nhân trở nên nhạy cảm với nhiều tác nhân khác nhau.

- Khi quá trình viêm bị kích thích bởi một số yếu tố bên trong và bên ngoài, đường thở sẽ phù nề và ứ đàm.


- Các cơ của phế quản sẽ co lại làm cho phế quản hẹp hơn nữa.
- Sự hẹp này làm cho khí khó có thể thoát ra được khỏi phổi (thở ra khó).
- Hiện tượng kháng lại lực thở ra (thở ra khó) này là triệu chứng đặc trưng của bệnh hen.

Vì hen gây ra sự đề kháng, hoặc tắc nghẽn, luồng không khí thở ra, nên nó được gọi là bệnh phổi tắc nghẽn. Thuật ngữ y học chỉ tình trạng này là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay COPD (chronic obstructive pulmonary disease). COPD là một nhóm bệnh trong đó bao gồm không chỉ có hen mà còn có viêm phế quản mạn tính và khí phế thủng.
Cũng như các bệnh mạn tính khác, hen là một bệnh mà bạn phải chịu đựng nó hằng ngày trong suốt cuộc đời. Bạn có thể bị lên cơn hen bất cứ khi nào bạn tiếp xúc với một trong những dị nguyên của bạn. Không giống như các bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính khác, hen có thể phục hồi được.
- Hen không thể chữa khỏi được nhưng có thể kiểm soát được.
- Bạn có cơ hội kiểm soát được hen nhiều hơn nếu như được chẩn đoán sớm và bắt đầu điều trị ngay sau đó.


- Nếu được điều trị thích hợp, bệnh nhân hen có thể sẽ ít lên cơn hen hơn và các cơn hen nếu có xảy ra thì cũng sẽ ít nặng nề hơn.
- Nếu không được điều trị, có thể bệnh nhân sẽ lên cơn hen thường xuyên và nặng hơn và thậm chí có thể tử vong.
Hiện nay, hen gặp nhiều hơn ở các nước phát triển. Lý do chính xác vẫn chưa được biết rõ nhưng có thể có sự góp phần của những yếu tố dưới đây:

- Chúng ta trải qua một tuổi thơ ít phải chịu tiếp xúc với những tác nhân nhiễm trùng như ông bà ta lúc trước nên hệ miễn dịch của chúng ta cũng trở nên ít nhạy cảm hơn.
- Chúng ta ở nhà nhiều hơn thời trước nên tiếp xúc với các yếu tố dị ứng ở trong nhà nhiều hơn chẳng hạn như bụi nhà.
- Không khí thời nay cũng bị ô nhiễm nhiều hơn thời xưa.
- Cách sống hiện đại làm chúng ta ít vận động hơn trước và béo phì ngày càng phổ biến. Có một vài bằng chứng cho thấy có sự liên quan giữa béo phì và hen.

Tuy nhiên, tin tốt lành là những người bị hen hoàn toàn có thể sống cho đến cuối đời. Những cách điều trị hen hiện tại nếu được tuân thủ chặt chẽ sẽ giúp bệnh nhân hen giới hạn được số lần lên cơn. Với sự giúp đỡ của các bác sĩ, bạn có thể kiểm soát được căn bệnh của mình.

Nguyên nhân dẫn đến hen phế quản

Chúng ta chưa biết được nguyên nhân chính xác gây ra hen.

- Điểm chung của những bệnh nhân hen là đường dẫn khí của họ bị viêm mạn tính và quá mẫn với nhiều loại dị nguyên.
- Các nghiên cứu tập trung vào vấn đề: "Tại sao người này có thể bị hen trong khi những người khác lại không bị ?"


- Một số người khi mới sinh ra đã có khuynh hướng bị hen trong khi một số khác lại không có. Các nhà khoa học đang cố tìm ra các gen gây ra khuynh hướng này.
- Môi trường mà bạn đang sống và cách sống của bạn xác định được một phần rằng bạn có bị lên cơn hen hay không.
Cơn hen là phản ứng của cơ thể đối với dị nguyên. Nó tương tự với phản ứng dị ứng ở nhiều điểm.

- Phản ứng dị ứng là đáp ứng của hệ miễn dịch của cơ thể với những tác nhân lạ.
- Khi các tế bào của hệ miễn dịch nhận thấy tác nhân lạ, chúng sẽ tạo ra một chuỗi những phản ứng giúp cơ thể chống lại.
- Nếu chuỗi phản ứng này làm sản xuất dịch nhầy và co thắt phế quản chúng sẽ tạo ra những triệu chứng của một cơn hen.
- Những tác nhân lạ trong bệnh hen được liệt kê ở bên dưới và chúng thay đổi tùy theo từng đối tượng.

Mỗi một bệnh nhân hen có những loại dị nguyên khác nhau. Có khi gần như tất cả những dị nguyên gây ra cơn hen ở một số người lại không gây ra triệu chứng gì ở những người còn lại. Một số dị nguyên thường gặp gây ra cơn hen có thể là:

- Tiếp xúc với khói thuốc lá hoặc khói tạo ra bởi củi đốt.
- Hít phải không khí ô nhiễm.


- Hít phải những tác nhân kích thích đường hô háp khác chẳng hạn như nước hoa hoặc chất tẩy rửa.
- Tiếp xúc với những chất kích thích đường hô hấp tại nơi làm việc.
- Hít phải những chất gây dị ứng (dị nguyên) chẳng hạn như mọt, bụi nhà hoặc lông súc vật.
- Bị nhiễm trùng đường hô hấp trên, chẳng hạn như cảm cúm, viêm xoang hoặc viêm phế quản
- Thời tiết lạnh, khô.
- Cảm xúc hưng phấn hoặc stress.
- Vận động quá nhiều.
- Trào ngược dịch dạ dày - còn được gọi là bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD - 

Gastroesophageal reflux disease)

- Sulphit - một chất phụ gia của một số loại thức ăn và rượu.
- Kinh nguyệt - ở một số phụ nữ (không phải là tất cả) có triệu chứng hen liên quan chặt chẽ đếnchu kỳ kinh nguyệt.

Những yếu tố nguy cơ của hen

- Sốt mùa cỏ khô (viêm mũi dị ứng) và một số chất dị nguyên khác.
- Eczema (chàm) - một loại dị ứng khác ảnh hưởng trên da.
- Di truyền - có cha mẹ hoặc anh chị em cũng bị hen

Triệu chứng của bệnh

Khi đường thở bị kích thích hoặc nhiễm trùng có thể gây khởi phát cơn hen. Cơn hen có thể xuất hiện đột ngột hoặc từ từ sau vài ngày hay vài giờ. Những triệu chứng chính của cơn hen bao gồm:
- Thở khò khè
- Không thở được.
- Co nặng ngực.
- Ho
- Nói khó
Những triệu chứng trên có thể xảy ra trong suốt ngày hoặc đêm. Nếu xảy ra ban đêm, có thể nó sẽ làm phá vỡ giấc ngủ của bạn.


Thở khò khè là triệu chứng thường gặp nhất của cơn hen.

- Khò khè là tiếng rít đi kèm với nhịp thở.
- Tiếng khò khè thường nghe thấy ở thì thở ra, tuy nhiên có cũng có thể nghe thấy được ở thì hít vào.
- Không phải tất cả những bệnh nhân bị hen đều thở khò khè và không phải tất cả những người thở khò khè đều bị hen.

Những hướng dẫn chăm sóc cho bệnh nhân bị hen hiện nay bao gồm việc phân độ cho độ nặng của triệu chứng hen như sau:

- Nhẹ - không liên tục: tần số xuất hiện cơn hen không quá 2 lần/tuần và triệu chứng về đêm không quá 2 tuần/tháng. Cơn hen kéo dài không quá vài giờ. Độ nặng của cơn thay đổi nhưng không có triệu chứng giữa các cơn.
- Nhẹ - liên tục: tần số xuất hiện cơn hen nhiều hơn 2 lần/tuần nhưng không phải hằng ngày, triệu chứng về đêm nhiều hơn 2 lần/tháng. Cơn hen đôi khi có thể ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày.
- Trung bình - liên tục: tần số xuất hiện cơn hen và triệu chứng về đêm nhiều hơn 1 lần/tuần. Cơn hen xảy ra với cường độ nặng hơn và ít nhất là 2 lần/tuần và có thể kéo dài hằng ngày. Cần phải sử dụng thuốc tác dụng nhanh và thay đổi sinh hoạt hằng ngày.
- Nặng - liên tục: cơn hen xảy ra thường xuyên, triệu chứng về đêm xảy ra liên tục và làm giới hạn những sinh hoạt hằng ngày.

Một bệnh nhân bị hen mức độ nhẹ hoặc trung bình cũng có thể bị lên cơn hen nặng. Độ nặng của hen có thể thay đổi theo thời gian trở nên tốt hơn hoặc xấu hơn.

Khi nào cần đến sự can thiệp của y học

Nếu bạn nghĩ chính mình hoặc con bạn bị hen, hãy đến gặp bác sĩ. Một số dấu hiệu có thể giúp bạn nghĩ đến bệnh hen bao gồm:

- Thở khò khè
- Khó thở
- Đau hoặc co ép ngực
- Ho tái phát, không đều và nặng hơn về đêm.


Nếu bạn hay con bạn bị hen, cần phải có một bảng hướng dẫn bao gồm những việc phải làm khi cơn hen xuất hiện, khi nào thì cần gọi bác sĩ và khi nào thì cần đưa đến phòng cấp cứu.

- Hít 2 liều thuốc đồng vận beta đường xịt cách nhau 1 phút. Nếu không đỡ, xịt thêm những liều kế tiếp cách nhau mỗi 5 phút. Nếu không có đáp ứng sau 8 lần xịt (trong vòng 40 phút) thì nên đưa người bệnh đến bác sĩ.
- Nên gọi cho bác sĩ nếu bạn đang lên cơn hen và đã dùng steroid đường uống hay được xịt hoặc tác dụng của thuốc qua đường xịt không kéo dài quá 4 giờ.
- Trên đây chi là những hướng dẫn chung, nếu bác sĩ đề nghị một kế hoạch điều trị khác thì hãy tuân thủ theo kế hoạch đó.

Mặc dù đây là bệnh có thể hồi phục được nhưng một cơn hen nặng cũng có thể gây tử vong.

- Nếu bạn đang lên cơn hen và thở hơi ngắn hoặc không liên lạc được với bác sĩ thì bạn cần phải đến phòng cấp cứu của bệnh viện gần nhất.
- Không nên tự đến bệnh viện một mình, hãy đi cùng với người thân hoặc bạn bè. Nếu bạn ở một mình, hãy gọi số điện thoại cấp cứu để được chở đến bằng xe của bệnh viện.

Xin giới thiệu các sản phẩm an toàn cho bệnh Hen suyễn.


Giá thông báo 150.000 vnđ

CÔNG DỤNG THUỐC HEN P/H: Thuốc hen P/H điều trị các thể hen phế quản có biểu hiện: Khó thở, tức ngực, đờm nhiều. Phòng cơn hen tái phát.

THÀNH PHẦN THUỐC HEN P/H: Ma hoàng... 20g; Tế tân... 6g; Bán hạ... 30g; Cam thảo... 20g; Ngũ vị tử... 20g; Can khương... 20g; Hạnh nhân... 20g; Bối mẫu... 20g; Trần bì... 20g; Tỳ bà diệp... 20g; Đường kính, tá dược vừa đủ…250ml.

CÁCH DÙNG VÀ LIỀU DÙNG: Đợt điều trị của thuốc hen P/H kéo dài từ 8 đến 10 tuần. Trường hợp bệnh nặng có thể dùng thêm thuốc hen P/H từ 1 - 2 đợt nữa. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.

Công ty Đông Dược Phúc Hưng: 96-98 Nguyễn Viết Xuân - Hà Đông - Hà Nội.


Giá thông báo: 1.200.000 vnđ

Các tác dụng chính của Passilat-vision 

Làm giảm ảnh hưởng của stress, có tác dụng làm dịu nhẹ và hiệu quả.
Giúp với sự lo lắng và căng thẳng thần kinh.
Làm giảm nguy cơ của dây thần kinh và các bệnh tim mạch.
Loại bỏ phấn khích thần kinh và mất ngủ, ảnh hưởng có lợi trên tỷ lệ của các giai đoạn của giấc ngủ.
Chống giấc ngủ.
Cải thiện tâm trạng.
Có tác dụng chống loạn nhịp
Nó được sử dụng như một thuốc an thần, trong suy nhược thần kinh, thực vật loạn trương lực cơ, lo âu, kích thích, và các rối loạn thần kinh.
Tăng cường cơ tim và làm giảm kích thích của nó.
Tăng sức đề kháng với stress.
Điều chỉnh sự trao đổi chất.
Nó được sử dụng trong các rối loạn liên quan đến căng thẳng thần kinh, khó khăn trong việc đi vào giấc ngủ và đau có nguồn gốc thần kinh ở đường tiêu hóa, ngăn ngừa suy nhược thần kinh.
Ngăn ngừa các bệnh dị ứng và da.
Sử dụng như là một hành động chống viêm, antirheumatic và giảm đau.
Giúp giảm lượng cholesterol trong máu và ức chế sự hình thành của atheroscleroticplaques.
Áp dụng với rối loạn giấc ngủ, nhức đầu, hội chứng tiền kinh nguyệt và mãn kinh, động kinh, đau nửa đầu, hen suyễn, neurodermatitis, trong điều trị bệnh mạch vành và tăng huyết áp.

Thành phần
Trong một viên nang có chứa:
Lạc tiên hoa tía (Passiflora incarnata L.) 200 mg
Cây sơn trà (Crataegus monogyna Jacq.) 50 mg
Cây nữ lang (Valeriana officinalis L.) 50 mg
Vitamin В1 0,4 mg
Vitamin В6 0,4 mg
Vitamin В12 0,4 mcg











Mọi chi tiết và giải đáp xin liên hệ

Công ty TNHH sức khỏe tuyệt hảo

Địa chỉ: Số: 48/13, Đường số 10, P. Bình Hưng Hòa B, Q. Bình Tân,Tp Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0935 141 438 - Mr Lâm
Email : tribenhthongminh.vn@gmail.com
http://www.tribenhthongminh.vn

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2015

Ung thư phổi và các triệu chứng





Hiện nay, ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. 50 năm trở lại đây, tại các nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển công nghiệp, tỷ lệ bệnh nhân mắc ung thư phổi cũng như tỷ lệ tử vong do ung thư phổi đang tăng nhanh, trong số những bệnh nhân nam chết vì ung thư thì ung thư phổi đúng thứ nhất. Tỷ lệ bệnh nhân mắc ung thư phổi cũng đang có xu hướng tăng lên.


Ung thư phổi là gì?

Ung thư phổi là loại ung thư ác tính nguyên phát thường gặp nhất, hầu hết ung thư phổi bắt nguồn từ lớp da trên niêm mạc của phế quản, nên còn gọi là ung thư phổi phế quản. Ung thư phổi thường để chỉ ung thư trên lá phổi, thông thường không bao gồm các u ở lớp phôi giữa ở màng phổi khác hoặc những loại u ác tính khác như ung thư carcinoid, u hạch ác tính hay các u di căn từ các bộ phận khác.

Các loại ung thư phổi cơ bản

1. Ung thư phổi tế bào nhỏ: ung thư phổi tế bào nhỏ hay oat cell carcinoma, bệnh nhân mắc loại ung thư này chiếm khoảng 20%, thời gian tăng trưởng của các tế bào ung thư của loại ung thư phổi tế bào nhỏ này ngắn, phát triển nhanh, thường đi kèm với bài tiết bất thường bên trong hoặc hội chứng Carcinoid.

2. Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ: có khoảng 80% bệnh nhân ung thư phổi là thuộc ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Việc phân biệt hai loại ung thư này có vai trò rất quan trọng vì phương pháp điều trị đối với ha loại ung thư phổi này hoàn toàn khác nhau.


Các loại ung thư phổi lâm sàng

1. Ung thư dạng biểu bì: đây là loại thường gặp nhất trong tất cả các loại ung thư phổi, chiếm khoảng 50%. Độ tuổi của bệnh nhân thường là 50 tuổi trở lên, thường gặp ở nam giới nhiều hơn nữ giới. Loại này thường bắt nguồn từ phế quản tương đối lớn, thường là ung thư phế quản trung tâm

2. Ung thư chưa biệt hóa: tỷ lệ phát bệnh chỉ đứng sau ung thư dạng biểu bì, thường gặp nhiều ở nam giới, và những người trẻ tuổi, thông thường là do phế quản khá lớn. hội chứng Carcinoid thì dựa vào tổ chức hình dạng tế bào mà có thể phân thành các loại như oat cell carcinoma, tế bào tròn nhỏ và tế bào lớn, trong đó gặp nhiều nhất là loại oat cell carcinoma.

3. Ung thư tuyến phế quản: bắt nguồn từ lớp da trên biểu mô phế quản, rất ít khi bắt nguốn từ tuyến niêm mạc của phế quản lớn. Tỷ lệ phát bệnh thấp hơn ung thư dạng biểu bì và ung thư chưa biệt hóa, thường ở độ tuổi nhỏ, và gặp nhiều ở nữ giới. Đa số ung thư mô tuyến bắt nguồn từ phế quản nhỏ, là ung thư phế quản ngoại vi.

4. Ung thư tế bào lá phổi: bắt nguồn từ lớp da biểu bì phế quản, còn được gọi là ung thư tế bào lá phổi phế quản hỏ hay ung thư tuyến phế quản nhỏ. Vị trí là ở xung quanh lá phổi, có tỷ lệ phát bệnh thấp hơn so với các loại khác, và thường gặp ở nữ giới.

Những nguyên nhân gây ra ung thư phổi


1. Hút thuốc: hút thuốc lá trong một thời gian dài có thể gây ra ung thư da trên biểu bì hoặc ung thư tế bào nhỏ không biệt hóa, khói thuốc lá sẽ dẫn đến nhả ra các chất gây ung thư.

2. Yếu tố nghề nghiệp: nếu tiếp xúc lâu với các chất phóng xạ như urani, radium và các hợp chất dẫn đến ung thư như Hydrocarbons,thạch tín và crom niken

3. Các bệnh mãn tính ở phổi: những người có bệnh lý về kết hạch phổi hay ho do dị ứng thì thường có tỷ lệ phát bệnh ung thư phổi cao hơn những người bình thường, ngoài ra trong quá trình lành vết thương, viêm phế quản cũng có thể dẫn đến ung thư.

4. Yếu tố bên trong cơ thể: gia tộc di truyền và khả năng miễn dịch làm giảm chức năng bài tiết trong quá trình trao đổi chất…

Triệu chứng của ung thư phổi


1. Ho: Thường ho dai dẳng , ho là một phản ứng của niêm mạc phế quản đối với sự phát triển của khối u ở phế quản càng lớn ho càng rõ rệt

2. Sốt nhẹ: sau khi khối u làm tắc phế quản sẽ tồn tại hiện tượng lá phổi bị tắc, gây ra các biểu hiện ở các mức độ khác nhau, nhẹ thì sốt nhẹ, còn nặng thì sẽ sốt cao.

3. Đau ngực : ở giai đoạn đầu thì có biểu hiện hơi đau ngực, chủ yếu biểu hiện là đau âm ỉ va đau tức, đau ở các chỗ khác nhau thì khó xác định được có liên quan thế nào với hô hấp.

4. Đờm có máu: chứng viêm của khối u dẫn đến hoại tử, đường máu nhỏ khi bị tồn thương sẽ có một ít máu, rồi máu đó hòa lẫn với đờm và sẽ xuất hiện thành từng đợt hoặc liên tục.

Nhữngtriệu chứng của ung thư phổi giai đoạn cuối


1. Thấy đau ngực: đây là biểu hiện thường xuất hiện vào giai đoạn cuối, đại đa số những bệnh nhân ung thư phổi mà đã lan ra các bộ phận phần ngực thì thường có triệu chứng đau ngực.

2. Khàn giọng: Khối u xâm nhập vào bên trái màng liên kết phủ tạng, thần kinh quặt ngược bị chèn ép làm cho giọng bị khàn.

3. Mặt bị phù, cổ bị bạnh to: khối u chèn ép vào tĩnh mạch chủ trên, ban đầu sẽ làm cho việc lưu thông ở tĩnh mạch gặp khó khăn làm cho mặt bì phù và cổ bạnh ra.

4. Thở nhanh và tràn màng dịch phổi: thở nhanh và tràn màng dịch phổi cũng là biểu hiện của ung thư phổi giai đoạn cuối.




Mọi chi tiết và giải đáp xin liên hệ

Công ty TNHH sức khỏe tuyệt hảo

Địa chỉ: Số: 48/13, Đường số 10, P. Bình Hưng Hòa B, Q. Bình Tân,Tp Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0935 141 438 - Mr Lâm

Email : tribenhthongminh.vn@gmail.com